Sai lầm về giáo dục con cái (Tiểu Phi)

(Hi vọng một sự thức tỉnh)

Rất khó có thể thay đổi vấn đề quan điểm giáo dục trong một xã hội mà hầu như ai cũng luôn miệng nói: “không ép con học”, “muốn con phát triển toàn diện”, “muốn con được hiểu rộng biết nhiều”, “muốn con được phát triển nhân cách toàn diện”,… nhưng suy nghĩ và hành động của họ thì hoàn toàn ngược lại. Thậm chí nhiều người đồng tình với lập luận của tôi và rất muốn làm giống như tôi nhưng quả thật thì họ chỉ đồng tình và “dao động” tâm lý trong lúc ấy, khi hành động thì họ lại không đủ dũng khí và can đảm đi ngược lại đám đông như con đường của tôi, cuối cùng thì vẫn “tự đầu hàng” và chọn cách hùa theo trend và xu thế của số đông để lao vào vòng xoáy “chạy đua bốn mùa” cho “chắc ăn”.

Thế mới thấy, tâm lý và sự thao túng của đám đông chi phối hoàn toàn mọi người bình thường. Để vượt qua được nó, rõ ràng người ta phải thế nào đó hoặc cần có “một cái gì đó” thực sự khác biệt…

Mặc dù biết rằng 99,9% người ta sẽ vẫn không thể lay chuyển nhưng tôi vẫn phải viết bài này vì trách nhiệm của mình, mang ý nghĩa thức tỉnh chung cho tất cả. Biết đâu có thể dù chỉ là một người nào đó trong cõi mạng mênh mông này, nhờ đọc được mà suy nghĩ lại thì đáng mừng biết bao.

Chúng ta đang sống trong một thời đại kỳ lạ khi con người nhân danh tình yêu để tước đoạt cuộc đời đích thực muôn màu ra khỏi con cái mình và dựng cho chúng cuộc đời một màu rồi đưa chúng vào trong thế giới một chiều được đóng khung và xây sẵn. Cha mẹ dốc cạn túi tiền và tâm sức để xây dựng cho con một thế giới “vô trùng”: sạch sẽ hơn, an toàn hơn và “cao cấp” hơn, thượng lưu hơn. Nhưng chính trong nỗ lực loại bỏ mọi đau đớn, rủi ro và thiếu thốn ấy, một bi kịch giáo dục đã âm thầm nảy mầm: Chúng ta đang biến con cái thành những tù nhân của sự an toàn, từ đó tạo ra một thế hệ phát triển què cụt về nhân cách và nghèo nàn về thế giới quan.

Hẳn ta còn nhớ mỗi khi đi đâu, để yên tâm thì Tôn Ngộ Không vẽ một vòng tròn và bảo Đường Tăng đứng vào trong đó cho an toàn. Đó là biểu tượng của sự an toàn tuyệt đối, bên ngoài vòng tròn và bên trong bị ngăn cách hoàn toàn để yêu quái không thể xâm nhập và không có hiểm nguy. Nhưng cái giá phải trả là Đường Tăng bị nhốt chặt trong một không gian chật hẹp, không cần biết và cũng chẳng cần quan tâm đến thế giới bên ngoài.

Cha mẹ ngày nay cũng đang làm điều tương tự để “nhàn thân” và “an tâm”. Họ sợ con bẩn tay, sợ con mỏi chân, sợ con va chạm, sợ con bị những người nghèo làm cho ô uế nên đã phòng xa bằng cách làm phẳng cuộc đời con trước khi chúng kịp bước vào đó. Họ đẩy con vào những khuôn mẫu, rào kín không gian của chúng lại để tránh mọi rủi ro. Đứa trẻ được giữ an toàn, nhưng chính lúc đó, chúng trở thành tù nhân của sự an toàn. Khi thế giới bị cắt nhỏ lại chỉ còn nhà – trường – khu vui chơi đóng gói sẵn, cái “vòng tròn” ấy thậm chí khép kín đến mức rất nhỏ hẹp: chỉ luẩn quẩn hết ngày hết đời đi từ trường quốc tế qua các khu đô thị hạng sang để đến những trung tâm thương mại lấp lánh, chơi những trò hưởng thụ thuần túy rồi cứ thế lặp lại. Trái tim và trí não của đứa trẻ cũng bị teo tóp lại tương ứng. Đứa trẻ được giữ an toàn, nhưng thế giới của nó cũng bị cắt nhỏ lại đến mức nghèo nàn. Cuộc đời như vậy khác gì chỉ có một phân đoạn ngắn với một vài hoạt động giản đơn, được nhân bản ra để lặp đi lặp lại nhiều lần mà thôi.

Hậu quả của việc “nhồi nhét sách vở” toàn thời gian và tách rời khỏi thiên nhiên, xã hội là một sự sai lầm đến mức bi hài. Thật nực cười và đáng sợ khi những thiếu nữ, thanh niên 20 tuổi, những thực thể đã “phát triển” hoàn thiện và làm chủ xã hội đương đại lại không thể phân biệt nổi rau muống với rau dền, không biết con ngan khác con vịt chỗ nào, hay mù mịt về cách hay thế giới của một người lao động bình dân đang sống. Và nguy hiểm hơn, đó là sự ích kỷ lộ liễu, chỉ biết nhận và đòi hỏi mọi thứ từ người thân và xã hội; và thậm chí cha mẹ ông bà khúm núm kính dâng mọi thứ lên tận miệng nhưng con cháu vẫn còn tỏ ra “tưng tửng”, “khinh khỉnh”, “ngúng nguẩy” chỉ có chê bai và sẵn sàng hờn dỗi, “nhổ toẹt” khi không vừa ý mà không cần biết ơn ai vì những con cháu ấy tưởng rằng sự hưởng thụ là đương nhiên phải được.

Đó là sự “thông thái què cụt” phản cảm, dần dần làm tan rã hết những chuẩn mực đạo đức cơ bản. Người ta dạy con giải những bài toán phức tạp, học ê a bao nhiêu ngoại ngữ nhưng lại tước đi của chúng điều kiện tiếp xúc với những khái niệm giản đơn nhất của đời thường và cũng tước đi cơ hội có được thế giới quan rộng mở và nhân sinh quan đúng đắn. Sự nuông chiều thái quá đã làm cho cuộc đời đứa trẻ bị nhàm chán, đơn điệu và tù mù ngay từ vạch xuất phát, rồi cứ thế mà kéo dài ra chỉ theo một kiểu như vậy.

“Thượng lưu hóa” vốn là cái bẫy của sự vô cảm và vô ơn nhưng hai chữ “thượng lưu” lại có sức hút mãnh liệt với hầu hết mọi người, khiến họ lao theo như thiêu thân. Nhiều cha mẹ cố gắng có điều kiện kinh tế tốt để rồi tự “thượng lưu hóa” chính mình và con cái: nghĩ kiểu thượng lưu, học kiểu thượng lưu, chơi kiểu thượng lưu, quan hệ kiểu thượng lưu,… Họ định vị con phải nghĩ cái nghĩ của người giàu, chơi cái chơi của người giàu, và tuyệt đối xa cách với tầng lớp lao động: không sống cùng, không tìm hiểu, không quan hệ sâu, không tiếp xúc, không dính dáng,… những thế giới mà họ cho là thấp kém, bẩn thỉu và không an toàn!

Cha mẹ định hướng tiến tới mục tiêu giàu có để con cái chỉ tiếp xúc và tìm hiểu cái gì thuộc về “tầng lớp trên” và ngược lại thì không được lại gần, tiếp xúc hoặc tìm hiểu những gì thuộc về “tầng lớp dưới”.

Sự tách biệt này chính là mầm mống của sự vô cảm và vô ơn. Khi không có sự tiếp xúc với các tầng lớp người, các nền văn hóa khác, không có sự hiểu biết những con người muôn màu muôn vẻ xung quanh, đứa trẻ sẽ không hiểu được những điều quan trọng nhất của xã hội và bao giờ có được sự đồng cảm. Chúng nhìn những cuộc đời khác sống song song với mình bằng sự thờ ơ lạnh lùng và coi như những người kia ở thế giới xa xôi nào đó, không có gì liên quan tới mình. Không hiểu được nỗi vất vả, không nếm trải được sự nhọc nhằn, chúng sẽ trở nên vô tâm với xã hội và vô ơn với chính cha mẹ, ông bà (những người đã hy sinh để tạo ra cái lồng kính ấy cho chúng).

Người ta mơ ước và phấn đấu sống sung sướng và sống lâu (trường thọ, lâu chết). Tuy nhiên, chóng chết hay lâu chết một sinh mệnh là câu chuyện sinh học thuần túy, còn cuộc đời chúng ta ngắn hay dài lại thuộc về phạm trù khác. Tính triết lý của nó chính là nằm ở chỗ: cùng một tuổi thọ sinh học thì bạn đang sống bao nhiêu cuộc đời? Rõ ràng, bạn càng hiểu nhiều, càng sống được nhiều cuộc đời theo các cách thức văn hóa khác nhau, khám phá những điều thú vị của các cuộc đời khác, thì không chỉ có nghĩa đời sống của bạn thú vị, đa dạng, có ý nghĩa mà trên thực tế bạn đã sống nhiều hơn, dài hơn và “lãi” hơn những người khác. Đó có lẽ là điểm mấu chốt mà ít người nhận ra: cuộc sống không tính bằng số năm tuổi thọ, mà tính bằng biên độ trải nghiệm.

Cho nên dù sung sướng nhưng rất có thể bạn chỉ là kẻ sống ngắn nếu chỉ sống trong sự bảo bọc, chỉ biết đến sự hưởng thụ vật chất một chiều và lặp đi lặp lại những thói quen đơn điệu từ đầu cho đến cuối, thì dù bạn có sống đến 100 tuổi, cuộc đời bạn thực tế đã bị ngắn lại. Đó là một vài năm vô nghĩa được kéo dài ra, lặp lại chính nó và có lặp lại bao nhiều thì cũng như không.

Ngược lại vì thời gian sinh học là hạn định, do đó bạn không thể hi vọng kéo dài nó mà chỉ có thể kéo dài cuộc đời mình bằng cách mở rộng hiểu biết, thâm nhập vào văn hóa của các cộng đồng khác nhau, hòa nhập và sống cùng với họ. Trong cùng một quỹ thời gian, nếu bạn thấu hiểu được cuộc đời của một người dân tộc vùng cao, cảm thông được với người lao động nghèo, thích nghi được với những điều kiện túng thiếu nhất… tức là bạn đang sống song song nhiều cuộc đời. Bạn sống nhiều hơn hẳn người khác “vài cuộc đời” dù thời gian vật lý là như nhau.

Cho nên, giáo dục của chúng ta không chỉ đưa con đến những gì sung sướng, hưởng thụ, cung phụng chúng mà càng phải dạy nhiều hơn cho chúng về lao động, sự nghèo khổ, sự vất vả, cho chúng trực tiếp và một cách tự nhiên được thấy cả những đau khổ, bất hạnh của mọi người. Trải nghiệm khó khăn, thâm nhập vào đời sống bình dân và thích nghi với sự thiếu thốn mới là thứ giáo dục bản lĩnh nhất. Đừng để nỗi sợ của cha mẹ trở thành rào cản khiến cuộc đời con bị thu hẹp lại.

Hãy để con được mệt, được đau, được ngã và được bẩn tay. Hãy dạy con cách sống nhiều cuộc đời thay vì chỉ hưởng thụ một cuộc đời duy nhất nhưng nhạt nhẽo. Bởi vì, một con người không thể trưởng thành nếu chưa từng va chạm với hiện thực, và một cuộc đời không thể gọi là “dài” nếu chỉ luẩn quẩn quanh sự hưởng thụ mà thiếu đi chiều sâu của sự đồng cảm và vốn sống thực thụ. Sự đồng cảm và bao dung làm cho bản thân chúng ta có cơ hội thoát thai sang một trạng thái tâm lý khác mà ở đó cuộc đời chúng ta trở nên hạnh phúc hơn.

Dĩ nhiên, không thể dạy bằng nói miệng suông vì những điều ấy là trừu tượng và xa vời, trẻ sẽ không tin lắm và quên ngay. Hãy mạnh dạn cho trẻ tiếp xúc và chứng kiến, nói chuyện, ăn ở thật trong mọi hoàn cảnh để chúng được học thật tất cả mọi thứ từ người đời, từ xã hội muôn màu. Đó mới là sự quan tâm và đặc ân cho trẻ để mấy chục năm sau chúng nhận được quả ngọt và không ngừng cảm ơn, tự hào về những người cha mẹ tuyệt vời.

Ảnh 1: Sông Nậm Nưa nhìn từ đèo Tây Trang
Ảnh 2: Người phụ nữ Thái Đen ở Mường Phăng không thể ngăn được nước mắt khi được hỏi về gia cảnh
About Tiểu Phi 127 Articles
Thật may mắn được kết nối với tri thức nhân loại để học hỏi mỗi ngày!

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*