Ở Lũng Cú, Hà Giang có một ngôi làng đặc biệt của người Lô Lô nằm ở độ cao khoảng 1470m so với mực nước biển, được ví như vùng đất cổ tích bởi sở hữu cảnh sắc thiên nhiên tuyệt mỹ, nơi con người và thiên nhiên không còn sự cách biệt. Nơi đây gọi là Lô Lô Chải.
Ở Trung Quốc, người Lô Lô có gần 8 triệu người, không gọi là Lô Lô mà chính là “Di tộc”, là một cái tên không xa lạ khi xuất hiện trong nhiều tác phẩm, tiểu thuyết, sách vở, văn chương, lịch sử của Trung Quốc.
Nhưng ở Việt Nam thì người Lô Lô là dân tộc “rất” thiểu số, với tổng dân số chưa vượt quá 5000 người (thống kê 2019). Với số người ít như vậy, khả năng tăng dân số hạn chế mà trong thời đại kết nối thông tin mạnh mẽ như hiện nay thì vấn đề ngôn ngữ, văn hóa thuộc diện có nguy cơ cao bị đồng hóa và biến mất (do sự tác động tự nhiên về ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế của các dân tộc đông/ lớn/ mạnh hơn).
Về du lịch cộng đồng thì người Lô Lô tại Lô Lô Chải có vẻ là một trường hợp hiếm gặp, mặc dù dân số của cả dân tộc là rất ít nhưng lại phát triển du lịch cộng đồng rất mạnh, mức độ tương tác với bên ngoài khá cao, họ tiếp cận công nghệ và làm du lịch tương đối bài bản. Dù sao thì đến nay thì bản vẫn còn giữ được nhiều nét văn hóa đặc trưng.
Nói thêm, yếu tố “Chải” trong “Lô Lô Chải” có nguồn gốc từ phát âm tiếng Mông có nghĩa là vùng, miền, bản làng. Chúng ta có thể thấy rất nhiều địa danh chịu ảnh hưởng của tiếng Mông đều có thành phần này như Mù Cang Chải, A Pa Chải, Xín Chải, Lao Chải, Sán Chải, Sảng Chải,…
Ở khu vực biên giới giáp Trung Quốc, có một thứ “ngôn ngữ lai”, đặc biệt là ngôn ngữ của dân tộc chủ yếu ở vùng đấy ấy chịu ảnh hưởng từ tiếng Hán (gọi là tiếng Quan Hỏa), người dân nói biến âm đi thành quen. Chẳng hạn trong “Sín Chải” (bản mới), “Xín Mần” (cổng mới) thì “xín” có nghĩa là mới, được biến âm từ “bính âm” của chữ 新 (âm Hán Việt: tân) mà ra. Sau này dần dần do được viết không thống nhất, lúc là “sín” (Sín Chải), lúc thì viết “xín” (Xín Chải) nên thể khiến mọi người tưởng là hai âm xa lạ nhau chứ không phải đồng âm đồng nghĩa; nhưng vì chúng đã trở thành tên riêng chỉ địa danh nên không cần đổi lại.
Rất hiếm người tìm hiểu về địa danh học của Đông – Tây Bắc nên mảnh đất này còn nhiều điều thú vị. Chẳng hạn, đọc cụm từ Si Ma Cai thì cơ bản người Kinh sẽ không thể hiểu nghĩa là gì. Đã từng có giả thuyết rằng trong địa danh Si Ma Cai thì âm “cai” lẽ ra phải là “chải” mới có nghĩa vì đây là khu vực chịu ảnh hưởng của tiếng Mông. Tuy nhiên theo nhận định của tôi thì có thể “cai” trong Si Ma Cai không liên quan đến “chải” mà thuộc lớp âm Quan Hỏa tương ứng với chữ 街 (nhai/gai/cai), mang nghĩa phố chợ, còn si lẽ ra cũng là Sín/ Xín tức là “mới”. Nếu vậy, Si Ma Cai có khả năng là một địa danh thương mại biên giới mang dấu ấn Quan Hỏa – Vân Nam, có nghĩa là “chợ ngựa mới” (新馬街) tương tự cấu trúc của Lào Cai (老街) hoặc Móng Cái (芒街).
Còn riêng trong địa danh Lô Lô Chải thì “chải” là tiếng Mông và Lô Lô Chải tức là bản người Lô Lô.
Lô Lô Chải đã trở thành quần thể du lịch cộng đồng và là điểm đến quen thuộc của các “tua” du lịch. Tuy nhiên, mới gần đây, chẳng hiểu người ta học hỏi kinh nghiệm ở đâu mà bắt đầu xây dựng kiểu “người Kinh” và đặc biệt còn lát cả đá hoa trên đường của bản (chắc để cho rộng, sạch sẽ hơn) nhưng theo nhận xét của tôi thì dở chứ không hay, làm hỏng hết cả vẻ thuần khiết của nó. Với những người ưa dịch vụ thì có vẻ dịch vụ được cao hơn nhưng với người thích văn hóa thì đây giống như một sự mất mát, bước “hi sinh” đổi tự nhiên lấy lợi nhuận.
Vấn đề tiếng nói và văn hóa, không riêng dân tộc nào, ngay cả những dân tộc đông đảo hơn với trên dưới 1 triệu dân như Tày, Nùng, Dao, Thái, Mường thì vẫn có nguy cơ và sự phân hóa thế hệ. Người già và trung niên có thể còn nói tiếng dân tộc họ thành rất thạo trong sinh hoạt gia đình nhưng trẻ em trong bản do tiếp xúc với người Kinh nhiều, đi học trường nội trú, sử dụng điện thoại, mạng xã hội nên nói tiếng phổ thông (tiếng Kinh) nhiều và trôi chảy hơn, đồng thời bắt đầu có xu hướng “lười” nói tiếng của cha ông. Hơn nữa, hầu hết các tiếng dân tộc thiểu số chỉ diễn đạt được những vấn đề đơn giản, thậm chí phản ánh những hoạt động cũ, cách đây hàng chục năm đến cả thế kỷ. Những khái niệm mới, các từ ngữ mới, đặc biệt liên quan tới hành chính, pháp luật, công nghệ thì họ cơ bản phải vay mượn tiếng Kinh. Cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy người dân tộc thiểu số, chẳng hạn người Dao (có ngôn ngữ khá mạnh) nói chuyện với nhau mà trong một câu dùng rất nhiều từ ngữ vay mượn của người Kinh như: bệnh viện, bến xe, khám, điện thoại, chi phí, họp, hỗ trợ,… Các bạn thử nghĩ xem, những từ ngữ vay mượn đó lại toàn là những từ tối cần thiết trong diễn ngôn hàng ngày để phục vụ cuộc sống hiện nay.
Mà ngay cả nhiều gia đình người Kinh hiện nay chỉ đầu tư cho con tập trung học, luyện để nói tốt, nói hay tiếng Anh và tìm mọi cơ hội nói tiếng Anh. Thậm chí trong gia đình toàn Việt cũng cố gắng nói “thuần” tiếng Anh với nhau để “luyện” phản xạ gì đó, còn tiếng Việt thì tùy theo tự nhiên, nói hoặc hiểu theo bản năng từ giao tiếp được bao nhiêu cũng không quan trọng lắm.
Hay thêm minh họa nữa, tôi đã chứng kiến nhiều lần, ngay ở nơi được coi là thủ phủ của người Thái đen, vào trong bản sâu xa thì họ còn nói với nhau bằng tiếng Thái nhưng tới trung tâm TP, thị xã thì dù là một tập thể người toàn người Thái nói chuyện hay liên hoan với nhau cũng vẫn chỉ nói với nhau bằng tiếng Kinh cho tiện và đã quen như vậy.
Ở Lô Lô Chải hiện nay có khoảng hơn 100 hộ với chừng 500-600 nhân khẩu, theo thống kê thì hơn 50% số hộ đã chuyển sang làm du lịch (tỷ lệ rất cao) và đang được khuyến khích cả bản bỏ canh tác đi làm du lịch. Thực ra có một câu hỏi rất khó trả lời, đó là khi một bản làng thuần túy chấp nhận biến mình thành một “bảo tàng sống” chỉ làm du lịch, ranh giới giữa việc gìn giữ bản sắc và biến thành một sân khấu làm cảnh cho người xuôi xem là cực kỳ mong manh. Văn hóa, ngôn ngữ, tập tục, lễ tế, kinh nghiệm sinh hoạt, thậm chí trang phục cũng đều gắn liền và được bảo đảm tồn tại thông qua đời sống sinh hoạt sản xuất thông thường. Nếu bỏ hẳn việc canh tác thì những tập quán, kinh nghiệm, kỹ năng, thói quen,… biến mất và chỉ vài năm sau, chính người Lô Lô ngoài bộ quần áo và mấy ngôi nhà đã dựng sẵn trong bản nặng về hình thức cho người xuôi lên ngắm và chụp ảnh mang về, họ chẳng còn văn hóa hay bản sắc gì của cha ông nữa cả.
Dĩ nhiên, đối với dòng chảy sinh tồn của một tộc người, sự tồn tại, thịnh vượng, và câu câu chuyện “cơm ăn áo mặc” luôn là ưu tiên tối thượng. Người ta không thể bắt một bản sắc nghèo đói phải gồng mình gánh vác việc giữ gìn di sản cho nhân loại, cũng không thể dùng niềm tự hào dân tộc để sưởi ấm cho những đứa trẻ qua mùa đông cao nguyên. Thế nhưng, đây chính là lúc bài toán giữa ấm no và bản sắc bắt đầu quay sang “đá” nhau một cách nghiệt ngã. Du lịch mang lại sinh kế, nhưng chính sự khá giả từ du lịch lại đang chặt đứt chiếc rễ cái của văn hóa: đời sống lao động nương rẫy thuần túy.
Khi chiếc cuốc, vạt ngô bị vứt bỏ để nhường chỗ cho những dịch vụ homestay bóng bẩy, văn hóa Lô Lô lập tức mất đi hệ sinh thái sinh dưỡng của nó. Tách rời khỏi gốc rễ sản xuất, ngôn ngữ và tập tục sẽ chỉ còn là những lớp vỏ rỗng, tồn tại lay lắt như một thứ “hàng hóa trưng bày” phục vụ cho nhu cầu hiếu kỳ của người xuôi (chính bản thân người đại diện, “chủ” sở hữu văn hóa, ngôn ngữ đó sau này cũng không còn hiểu, không trực tiếp dùng nữa). Một cái bụng no nhưng không còn bản sắc thì ở góc nhìn nào đó cũng là bi kịch của sự phát triển. Giải quyết sự xung đột này không thể bằng cách cực đoan ép người dân nghèo đi để giữ nét hoang sơ, cũng không thể buông xuôi để họ biến thành những diễn viên mặc trang phục truyền thống trên chính quê hương mình. Yếu tố văn hóa, ngôn ngữ vẫn là cái gì đó có tính cốt tủy, thiêng liêng mà cả cộng đồng lẫn các nhà quản lý không thể thờ ơ bỏ mặc. Lô Lô Chải cần một lối đi trung dung, nơi du lịch được vận hành như một phương thức bảo tồn, và sự giàu có về kinh tế phải đi đôi với sự kiêu hãnh được sống thực chất bằng những phong tục của cha ông.
Ảnh: st.



Leave a Reply