—
Đèo Pha Đin nối Điện Biên và Sơn La. Ở phía Điện Biên là huyện Tuần Giáo (cũ), phía Sơn La là huyện Thuận Châu (cũ). Cách khoảng 5km từ dưới chân đèo ở phía Điện Biên là xã Quài Tở, một cái tên thực sự rất có ấn tượng nhưng không dễ nhớ đối với người Kinh và càng không mấy ai hiểu.
Xưa kia, khu vực Tuần Giáo thuộc một vùng gọi là Mường Quài, đây là cái tên lịch sử không rõ có từ bao giờ, sau này triều đình phong kiến nhắc tới gọi là “thổ âm”, tức là gọi theo tiếng bản địa. Cái tên Tuần Giáo là do các trều đình đặt cho.
Mường Quài gồm có Quài Cang, Quài Nưa và Quài Tở, ba cái tên sau này vẫn còn tồn tại và trở thành tên hành chính của 3 xã thuộc huyện Tuần Giáo. Quài là tên địa danh nhưng rất gây nghi ngờ về nghĩa, cũng như Cang, Nưa, Tở vậy.
Đây là khu vực người Thái rất mạnh, trong tiếng Thái cổ thì “quài” (phát âm gần đúng) có nghĩa là trâu. Trâu với xã hội Thái cổ không chỉ là gia súc mà nó gần như một biểu tượng hoặc đơn vị sản xuất nông nghiệp. Trâu rất quý giá và có vị trí trọng yếu nên người ta đặt tên cả mường theo trâu là chuyện bình thường.
Cang, Nưa, Tở không phải là trường hợp cá biệt, chẳng hạn ở khu vực Mường Ảng cũng có Ẳng Nưa, Ẳng Cang, Ẳng Tở. Cang có nghĩa là giữa, phần trung; nưa có nghĩa là phần trên, ở trên; tở là phần dưới, ở dưới. Đây là phân chia một cách tương đối theo chủ quan về vị trí, địa hình của khu vực.
Do đó Quài Tở không phải một cái tên vô nghĩa mà ngược lại, rất có ý nghĩa. Nếu không có ý nghĩa văn hóa – lịch sử nào đó thì làm sao nó được duy trì và tồn tại qua lịch sử, theo năm tháng trong cộng đồng người Thái ở Tây Bắc.
—
Nhân chuyện Nưa, Cang, Tở thì những cái tên này đã bị mai một dần, không phải lúc nào cũng xuất hiện để người đương đại nhận diện. Trong số đó, Nưa là yếu tố có lẽ còn xuất hiện nhiều nhất rồi đến Tở (yếu tố đối lập với nó). Chẳng hạn sông Nậm Nưa, hoặc ở Lào có địa danh Sầm Nưa (phía dưới là Sầm Tở); khi tới Mường Lay, ở “phía trên” rõ ràng có địa danh Lay Nưa, với ý nghĩa là phần trên của Mường Lay…. Tương tự như vậy, ta có thể thấy các địa danh Chiềng Nưa – Chiềng Tở, Mường Nưa – Mường Tở, Thanh Nưa – Thanh Tở,… và trong số đó có những cái tên cũ, cổ đã chỉ còn tồn tại trong văn hóa hoặc tiềm thức của người dân thế hệ già, thậm chí trẻ em bản địa hiện nay không phải ai cũng biết.
—
Ở Tuần Giáo, Mường Quài thì phải khẳng định ngay 2 thứ: người Thái Đen và món Pa pỉnh tộp. Mặc dù không giỏi về ăn uống nhưng vì là văn hóa ẩm thực đặc trưng người Thái, cho nên tôi cũng đã quá quen với món pa pỉnh tộp này. Rất đơn giản và rõ nghĩa, Pa (ປາ / ปา) nghĩa là cá; pỉnh (ປິ້ງ / ปิ้ง), nghĩa là nướng, đốt; còn tộp (ຕົບ / ตบ) nghĩa là gập, úp hoặc xếp vào với nhau. Pa pỉnh tộp chính là món cá nướng truyền thống của người Thái, cá được mổ dọc sống lưng, sau khi ướp và nhồi gia vị vào thì gập đôi lại kẹp vào thanh tre rồi nướng. Gia vị tương đối đặc trưng, luôn có mắc khén và hạt dổi cùng rau thơm thường là hành củ, hành hoa, rau húng, sả, ớt và đặc biệt phải có rau thì là và lá đắng (từ Yên Bái, Lai Châu đến Điện Biên, Sơn La sẽ hơi khác nhau, tùy vào loại gia vị mà vùng canh tác được). Tất cả được băm nhỏ, trộn đều để tạo độ ẩm và trung hòa mùi tanh của cá sông, suối.
Theo truyền thống người Thái, món pa pỉnh tộp này, dùng để tiếp khách quý; trong các ngày lễ, Tết, cưới hỏi (lễ vật),… Họ còn có câu thành ngữ đại ý là: “Gà tơ tần đem đến không bằng pa pỉnh tộp đem cho” (Cai tơ tẩm báu pâng pa pỉnh tộp tón).
Pa pỉnh tộp ở cổng chợ Mường Than (Than Uyên, Lai Châu) và ngay đầu xã Quải Tở (Tuần Giáo, Điện Biên) mặc dù được bán bình dân nhưng đều rất ngon theo những cách riêng. Điều này cho thấy, không phải cứ cái gì ở trong nhà hàng mới là đặc sản :D.
—
Ảnh: Chờ Pa pỉnh tộp.

Leave a Reply