(Phân biệt Sli, Lượn, Then, Mo,… trong văn hóa Tày, Nùng, Thái, Mường)
Thông thường, người ta thường coi hát Lượn là di sản tiêu biểu của người Tày còn hát Sli được công nhận là loại hình dân ca đặc sắc của người Nùng. Tuy nhiên, do văn hóa và ngôn ngữ giữa Tày Nùng rất khăng khít và giao thoa mạnh, cho nên không phải lúc nào sự phân biệt ấy cũng hoàn toàn chính xác trên thực tế. Ở các cộng đồng cộng cư Tày Nùng, việc sống chung, hôn nhân (giữa người Tày và Nùng) rất phổ biến, cho nên các lễ hội như vậy có sự tham gia của cả Tày và Nùng thì gần đây không còn phân biệt rạch ròi giữa văn hóa Tày hay Nùng nữa.
Hát Sli thường hát theo cặp hoặc bè, giai điệu đơn giản, tiếng thô mộc còn hát Lượn thì thường hát lẻ đối đáp, bài dài hơn, mượt mà hơn. Cả hai hình thức này đều là hát tâm tình, giao duyên, là hình thức giao lưu tình cảm nam nữ, không phải ngôn ngữ để cúng tế.
Người Tày và Nùng còn chung một di sản quan trọng khác là hát Then. Khác với Sli, Lượn thì hát Then là hát tín ngưỡng, thực chất là lời hát để giao tiếp, khẩn cầu với trời đất, tức là “nói” cho Trời nghe chứ không phải “người nói với người”. Người Tráng (mà người Việt hay gọi là dân tộc Choang, khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây) là dân tộc ở Trung Quốc, có cùng gốc với Tày Nùng. Sau khi di dân thì phần cư dân tới Việt Nam phát triển thành dân tộc Tày và Nùng. “Then” là phát âm của người Tráng đối với chữ 天 (ông trời) và người Tày Nùng lấy vào trong văn hóa của mình.
Hát Then dùng đàn tính. Đàn này người Choang gọi là 天琴 (âm hán Việt là “thiên cầm”, tức là đàn Trời). Tuy nhiên phát âm chữ 天 của người Tày lại giống với “tính” chứ không phải “then” và gán nghĩa là “đàn” chứ không phải giữ nghĩa “trời” (lẽ ra phải là chữ 琴 mới đúng logic). Người Tày Nùng thường gọi đàn này là “tính tẩu” (tẩu tức là quả bầu), có nghĩa là “đàn bầu”. Khi Việt hóa cao, bây giờ người ta gọi gọn đi là “đàn tính”, “đàn tẩu”, hơn nữa cũng là để tránh bị trùng tên với “đàn bầu” khác của người Kinh ở dưới xuôi.
Điểm khác biệt cơ bản giữa hát Then với hát sli (người Nùng) và hát Lượn (người Tày) ở chỗ, bản chất Sli, Lượn là hát giao duyên, đối đáp giữa người với người, sử dụng hoàn toàn là khẩu ngữ thuần Tày, Nùng và có thể được ghi chép bằng chữ Nôm Tày/Nùng. Nội dung của Sli, Lượn rất bình dân, đời thường, gần gũi, mô tả tình yêu, lao động, thiên nhiên, trong quá trình hát có thể tự ý cải biên và sáng tạo thêm. Đây là phần “hạ tầng” ngôn ngữ, là ngôn ngữ bình dân, giống như truyện Nôm, thơ Nôm của người Kinh. Đối lập với nó, hát Then, đặc biệt Then cổ là “Hán văn” và Kinh điển (Lời gọi của Thần linh) được trình diễn dưới hình thức âm nhạc. Ngoài việc am hiểu Hán văn, các thầy Then thường phải hiểu cả âm nhạc, biết chơi đàn tính. Thầy Then chính là trí thức truyền thống của người Tày, Nùng. Ngôn ngữ của Then là hệ thống Hán – Tày/Hán – Nùng, văn phong cơ bản bám sát theo quy tắc văn ngôn, nhưng được đọc/hát hay phát âm theo âm địa phương. Dĩ nhiên, cùng với sự phát triển thì Then đương đại cũng có sự thay đổi dần theo hướng giảm bớt phần văn ngôn và tăng phần Tày Nùng hóa nhưng bản chất thì không đổi. Các bài Then cổ (nhất là trong các đại lễ cấp sắc, giải hạn lớn) thực chất là các bản “sớ” hoặc “kinh” được thi ca hóa. Về cấu trúc phải tuân thủ nghiêm ngặt các khái niệm triết học, điển tích Hán học. Người Tày bình thường nghe Then có thể hiểu đại ý nhưng không thể hiểu hết tầng nghĩa sâu xa nếu không học chữ Hán – Nôm Tày, tương tự như các văn bản sớ, văn cúng Hán của người Kinh. Cũng giống người Kinh, Sli và Lượn là hát cho người nghe nên phải dùng tiếng người bình dân (khẩu ngữ) để truyền tải còn Then là hát cho Thần (Trời, thiên binh, thiên tướng) nghe cho nên phải dùng ngôn ngữ của thánh hiền (Hán văn) để không bị vô lễ hay phạm húy. Có thể hiểu Then giữ vai trò là “Văn hóa thượng tầng”, duy trì tính uy nghiêm thông qua Hán văn.
Tồn tại hai loại Then là Then cải biên hiện đại mang tính Văn nghệ hơn, dùng nhiều khẩu ngữ, tiếng Tày Nùng sinh hoạt để đồng bào dễ hiểu, dễ hát và thậm chí dễ cúng. Tuy nhiên bản chất của Then vẫn là Then cổ (Pụt, Tào, Then hành lễ), thường thấy trong các bản chép tay chữ Hán – Nôm Tày cổ, văn phong có thể pha trộn cả Hán văn lẫn ngôn ngữ bản địa. Thường thì phần Hành khúc (đường đi), có nội dung kể về quân binh vượt sông, vượt núi… thì có thể dùng nhiều từ thuần Tày, Nùng chỉ để tường thuật, tả cảnh dễ hiểu chủ yếu để cho nhân dân hiểu và cảm nhận. Nhưng sang phần Khấn triệu, tấu cáo Thượng giới (phần trọng yếu để thần linh nghe thấy) thì văn bản chuyển hẳn sang văn phong Hán học, biền ngẫu.
Đối chiếu với người Thái thì có thể nói là “đại đồng tiểu dị”, giống nhau ở đại thể và khác nhau ở những điểm chi tiết. Về phía nghi lễ, người Thái (cả Thái Đen (Tày Đăm) và Thái Trắng (Tày Khao)) đều có “Then” (cúng trời đất) và “Mo” (cúng ma, bản mường, chữa bệnh. Đôi khi ranh giới này có sự chồng lấn, nhưng nhìn chung, đây đều là tầng lớp trí thức – thầy cúng của người Thái và thực hiện các nghi thức giao tiếp với thần hoặc ma (không phải người). “Khắp” trong tiếng Thái có nghĩa là hát, khi cúng tế hay hát dân ca thì đều hát “khắp”, chỉ khác về nội dung. Tuy nhiên, về mặt phổ quát thì người ta dùng từ “hát khắp” với tư cách tên gọi chung cho các làn điệu dân ca Thái, bao gồm khắp giao duyên, khắp kể chuyện, khắp ru con. Hát khắp tương đồng với “Sli, Lượn” của người Tày về mặt chức năng đời sống. Bởi vì người Thái không có đồng thời hệ văn ngôn (Hán) và khẩu ngữ như người Tày, Nùng, Dao nên nhưng khi cúng tế thì vẫn chỉ dùng chung “khắp” chứ không dùng hệ ngôn ngữ riêng cho cúng bái.
Người Tày, Nùng, Thái, và người Tráng ở Trung Quốc đều thuộc ngữ hệ Tai-Kadai (Thái-Kađai), có chung nguồn gốc ngôn ngữ, hơn nữa, cùng lịch sử di cư từ miền nam Trung Quốc sang Việt Nam. Truyền thuyết về bà Then có nhắc tới ba nhánh (3 đệ tử) của bà đi vào ba dân tộc đại diện là Tráng (Trung Quốc), Tày và Thái là minh chứng cho thấy mối liên quan tín ngưỡng từ rất lâu đời của các dân tộc này, cho nên Then mới là di sản chung của họ và được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Sự phân biệt Then – Mo của người Thái là một điểm thú vị và có nét trung gian, dấu hiệu của sự giao thoa giữa hai văn hóa di cư và bản địa. Dễ thấy, cùng là dân tộc di cư từ miền nam Trung Quốc nhưng người Thái là dân tộc duy nhất trong nhóm Tày-Thái phân biệt rạch ròi Then và Mo, trong khi Tày, Nùng và Tráng (ở Trung Quốc) đều chỉ dùng Then thống nhất. Có thể đặt giả thuyết, Mo là sự bổ sung hoặc thay thế cho một phần chức năng của Then khi tiếp xúc với văn hóa Mường, thể hiện sự giao thoa khi người Thái di cư tới và chung sống với khu vực của người Mường bản địa. Có thể thấy bức tranh này qua phân bố: người Tày, Nùng định cư chủ yếu ở vùng Đông Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh), giáp ranh với người Tráng ở Quảng Tây (Trung Quốc). Họ ít tiếp xúc với vùng văn hóa Mường ở phía Tây Nam, do đó vẫn giữ được cấu trúc Then thống nhất, nguyên bản, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Hán – Tráng hơn là từ văn hóa bản địa Việt cổ (Mường). Trong khi đó, người Thái đã di cư xa hơn, xuống sâu vào khu vực Tây Bắc và Thanh Hóa – là địa bàn sinh sống của người Mường và các dân tộc bản địa thuộc ngữ hệ Môn – Khmer cổ. Người Thái có chữ Thái cổ (Tày Đăm, Tày Khao) có nguồn gốc từ chữ Sanskrit/Pali qua con đường Phật giáo, ít phụ thuộc vào chữ Hán so với người Tày, Nùng nên người Thái có thể sử dụng hệ chữ riêng tương thích với ngôn ngữ của họ, không dùng văn ngôn Hán trong cúng tế; ngoài ra sự cộng cư lâu dài đã tạo nên sự phân tách chức năng Then – Mo, trong đó Mo đảm nhiệm một phần chức năng của Then gốc. Để thực hiện nghi lễ thì người Thái dùng đàn tính, xóc nhạc còn hát dân ca thì dùng khèn bè, pí (sáo). Âm thanh của người Thái réo rắt, đa thanh, kể chuyện, nhạc cụ mang tính cá nhân giàu nghệ thuật.
Về người Mường thì “Mo Mường” vốn là danh xưng kinh điển. Mo Mường nổi tiếng với các bản sử thi (Te tấc Mo) dài hàng nghìn câu, chủ yếu phục vụ tang lễ (Mo ma). Về chức năng, họ chính là trí thức – thầy cúng của người Mường, tương đương thầy Then của Tày. Về phía dân ca thì có “Hát Ví Mường”. Người Mường không có một thuật ngữ đặc trưng như “Khắp” hay “Sli” để chỉ toàn bộ hệ thống dân ca nhưng các làn điệu giao duyên, hát đối đáp, hát kể trong lễ hội đều được gọi chung là “hát Ví” (hoặc hát Rang, hát Bộ mẹng tùy vùng) và về bản chất thì nó cũng tương đương với Sli/Lượn.
Người Mường sử dụng thuật ngữ Mo để chỉ toàn bộ hệ thống nghi lễ tâm linh, không phân biệt đối tượng thờ cúng là thần linh hay người đã khuất. Nếu như với các dân tộc dùng hệ chữ Hán và bản địa hóa một phần (Tày, Nùng, Dao,…) thường coi trọng phần “thần” thì người Mường lại coi trọng phần “ma”, do đó Mo trong tang ma mới là lĩnh vực quan trọng nhất của Mo Mường. Thầy Mo dẫn dắt linh hồn người chết về “Mường Ma” (thế giới bên kia) thông qua các bài mo kéo dài nhiều ngày, với sử thi nổi tiếng “Đẻ đất đẻ nước”. Có thể thấy, với sử thi đồ sộ “Đẻ đất đẻ nước”, Mo Mường đã chứng tỏ có hệ thống nghi lễ liên quan đến cái chết, ma quỷ, đất đai phát triển nổi trội còn Then nguyên thủy của nhóm Tày – Thái cổ thì không đề cập đến mảng tang ma một cách phức tạp đến như vậy. Tiếp theo việc ma thì mới đến Mo trong cầu an, giải hạn như các nghi lễ như “mát nhà” (cầu an, giải hạn, xua đuổi tà khí), chính là nghi thức “cúng thần” để bảo vệ gia đình. Mo chính là một chủ thể, nhiều chức năng, thầy Mo là người nắm giữ toàn bộ tri thức tâm linh, từ việc cúng tổ tiên, ma quỷ đến cúng thần bản thổ, thần nông nghiệp.
Người Mường khi cúng tế Mo thì trình diễn xướng – ngâm – kể, tương tự như kết hợp hát – nói theo nhịp. Dĩ nhiên họ cũng phân biệt ngôn ngữ bình dân với ngôn ngữ nghi lễ nhưng không phải văn ngôn Hán và khẩu ngữ như Tày, Nùng, Dao mà là dùng nhiều từ Mường cổ, nhiều cách nói mang tính công thức nghi lễ (phải học mới hiểu hết), có nhiều nét khác với tiếng Mường thường. Cho nên, ngày nay Mo Mường có thể còn giữ lại nhiều lớp tiếng Việt cổ (Việt–Mường) mà khẩu ngữ hiện đại đã mất và điều này rất có ích cho việc nghiên cứu Việt ngữ. Khi hát ví thì hoàn toàn dùng ngôn ngữ đời sống. Khi cúng tế, người Mường cơ bản không chú trọng nhạc cụ, chỉ có trợ thanh bằng chuông, lục lạc còn khi hát dân ca thì có cồng chiêng, sáo ôi. Tuy nhạc cụ đơn giản (không có đàn dây, chỉ có nhạc cụ gõ đơn giản) nhưng thể hiện độ trầm hùng, nhịp điệu, cộng đồng, mang tính tập thể, đồng thời làm nổi bật sức mạnh của ngôn ngữ truyền khẩu trong Mo Mường.
Như vậy, đối với người Tày, Nùng, khái niệm “Then” (nghĩa là Trời) bao hàm cả việc cúng thần linh trên trời và các nghi lễ liên quan đến cõi âm, ma quỷ. Then là nghi lễ tổng hợp: Then không chỉ là cầu cúng thần linh, mà còn bao gồm các nghi lễ như cấp sắc (pẻ then), giải hạn, chữa bệnh, cầu an, cúng bà Mụ (liên quan đến trẻ nhỏ), thậm chí có cả các nghi thức tiễn đưa linh hồn. Thầy Then làm tất cả, ông Then (hoặc bà Then) là người duy nhất đảm nhiệm vai trò kết nối với thế giới tâm linh, không phân biệt rạch ròi giữa “cúng thần” và “cúng ma” như người Thái. Như vậy: Người Tày, Nùng không phân biệt tên gọi giữa cúng Thần và cúng Ma vì cả hai đều nằm trong phạm vi hành lễ của Thầy Then.
Văn hóa Mường (Hòa Bình, Thanh Hóa) được coi là “lõi” của nền văn minh Việt cổ, chịu ảnh hưởng Hán ít hơn so với vùng Đông Bắc. Trong cúng bái, người Mường coi trọng việc âm và chỉ có Mo, đảm nhiệm từ các nghi lễ người chết, ma quỷ cho đến thần linh. Họ chỉ dùng tiếng Mường trong cả cúng bái lẫn dân ca văn nghệ.
Riêng đối với người Thái thì lại có Then Thái và Mo Thái phân biệt nhau. Then Thái cũng tương tự Then Tày, giao tiếp tới Mường Then (Mường Trời) để cúng vía, giải hạn, cầu lộc cho cộng đồng, đặc biệt là các nghi lễ liên quan đến sự sinh tồn và sinh sản. Người thái khi cúng Then, Mo thì đều dùng Khắp (hát) tương tự như dân ca, chỉ khác nội dung vì người Thái không dùng hai hệ văn bản (Hán văn và khẩu ngữ) như các dân tộc Tày, Nùng, Dao. Then hướng thượng, Mo hướng hạ và người Thái đứng ở vị trí trung gian của cả hai hệ thống.


Leave a Reply