Mẫu Sơn, Ba Sơn, Thạch Đạn và một số nét văn hóa Đông Bắc
—
Núi Mẫu Sơn là một phần của cánh cung Bắc Sơn, một trong bốn cánh cung núi đá vôi và đá phiến nổi tiếng tại vùng Đông Bắc Việt Nam (Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn và Đông Triều). Mẫu Sơn nằm ở phần phía Đông của cánh cung này, tiếp giáp với biên giới Việt – Trung. Đây là vùng núi cao có cấu tạo chủ yếu từ đá phiến sét và đá thạch anh, tạo nên địa hình dốc và hiểm trở hơn so với các vùng đá vôi thấp xung quanh. Đó là một quần thể gồm khoảng 80 ngọn núi lớn nhỏ sát nhau, trong đó đỉnh cao nhất là đỉnh Phja Po_ (còn gọi là núi Cha) cao 1.541m và đỉnh Phja Me_ (núi Mẹ) cao 1.520m. Trong tiếng Tày, Phja có nghĩa là núi, Po_ có nghĩa là cha, Me_ có nghĩa là mẹ. Ta thấy trên sách báo và mạng người ta thường viết là Phia Pò và Phia Mè, đây là cách viết đơn âm hóa của người Kinh đối với những địa danh trên.
“Đại Nam nhất thống chí” thời Tự Đức có mô tả về khối núi này thông qua hình tượng “… đỉnh núi có hai chóp hình như người nam và người nữ, nên gọi là Công Mẫu”. Núi này được phân chia hai phần là Công Sơn, Mẫu Sơn. Công 公 trong tình huống này có nghĩa là nam giới, đàn ông, người cha; mẫu 母 có nghĩa là nữ, đàn bà, mẹ. Dấu vết của cái tên Công Sơn và Mẫu Sơn còn thể hiện nhiều trong văn hóa, đời sống cư dân ở đây, hơn nữa, một trong những biểu hiện đó chính là trước khi sáp nhập xã thì tại đây vẫn tồn tại cả xã Công Sơn và xã Mẫu Sơn. Vào tháng 7/2025, các xã Hòa Cư, Hải Yến và Công Sơn thành xã mới có tên gọi là xã Công Sơn; các xã Mẫu Sơn, Yên Khoái và Tú Mịch thành xã mới có tên gọi là xã Mẫu Sơn. Hai cái tên truyền thống là Công Sơn và Mẫu Sơn được bảo toàn.
“Mẫu Sơn” là âm Hán Việt để làm tên đại diện toàn dãy núi, có lẽ nhà Nguyễn đã thu gọn từ khái niệm “Công Mẫu Sơn” để đặt tên chính thức, lấy chữ “Mẫu” (Mẹ) làm trung tâm, phù hợp với yếu tố tín ngưỡng – tâm thức thờ Mẫu, đồng thời người Pháp xây dựng các khu nghỉ dưỡng ở núi Mẹ nên cái tên Mẫu Sơn càng được phổ biến.
—
Càng vào các vùng xa, sẽ chủ yếu gặp các bản của người Nùng, Tày và Dao, trong đó người Nùng và Tày thường sống dưới thấp, ở các thung lũng còn người Dao (cơ bản là Dao Lô Gang và một số Dao Tiền) sống bám quanh núi Mẫu Sơn, trong các bản trên triền núi và trên đỉnh. Như vậy, ở toàn huyện nói chung và khu vực đồng bằng, chân núi, thị trấn chủ yếu là dân tộc Nùng và Tày, ở Mẫu Sơn thì chủ yếu là người Dao. Các dân tộc khác sống xen kẽ trong khu vực. Qua khảo sát và tìm hiểu, cần nói thêm cho rõ, các huyện Cao Lộc, Lộc Bình (cũ) của Lạng Sơn là địa bàn cư trú chủ yếu của người Tày chiếm (hơn 50%) và người Nùng (gần 30%) và còn lại là Kinh, Dao, Hoa, Sán Chỉ,…
Đường tỉnh 234 và 235 đều xuất phát từ khu vực Thành phố Lạng Sơn (cũ) để đi về phía Đông, trong đó đường 235 đi thẳng tới Mẫu Sơn còn đường 234 đi thành vòng cung lên vùng biên giới phía Bắc rồi mới vòng xuống Mẫu Sơn. Hai con đường này gặp nhau tại ngã ba xã Cao Lâu (cũ), nay đã nhập vào xã Ba Sơn. Mặc dù là vùng núi nhưng cả hai đường đều được trải nhựa, tương đối dễ đi, trong đó đường 235 đi ngắn và đẹp hơn đường 234. Tiếp tục theo đường tỉnh 235 sẽ tới Ba Sơn và làng đá Thạch Khuyên, làng văn hóa đặc trưng của người Nùng. Sở dĩ mang tên Thạch Khuyên 石圏 là bởi vì giữa thế kỷ XIX người ta xây một bức tường bằng đá xếp quanh làng để phòng thủ chống giặc cướp, cho nên cái tên thạch khuyên (vòng tròn đá) xuất hiện từ đó.
Ngoài Công Sơn và Mẫu Sơn là những cái tên truyền thống thì Ba Sơn cũng là một cái tên đáng nói. Mặc dù Ba Sơn là một xã mới nhưng cái tên Ba Sơn về khía cạnh văn hóa, lịch sử thì lại có từ lâu, có lẽ vì vậy người ta đã chọn tên Ba Sơn để đặt cho xã mới. Điều này chính là lấy danh xưng văn hóa để làm địa danh hành chính. Ba Sơn là tên gọi văn hóa, có nghĩa là ba dãy núi, chính là biểu tượng phiên dậu có ba dãy núi che chắn tại biên cương. Cho nên, theo tôi được biết trong bản sớ cúng của người Dao Lô Gang trên Mẫu Sơn, có nhắc đến cụm từ phiếm chỉ 三山地脈 (âm Hán Việt: Ba Sơn Địa Mạch) với ý nghĩa ám chỉ vị thần cai quản toàn bộ long mạch của vùng núi này (họ gọi chung nơi này là Ba Sơn). Trong những năm 1947-1950, khu du kích Ba Sơn của Việt Minh ra đời và được ca tụng là “Ba Sơn anh dũng”, gắn với các trận đánh du kích với Pháp ở “con đường lửa số 4” (tức là tuyến đường biên giới phía Bắc). Ngày nay, vào 6/02 âm lịch hàng năm, người dân huyện Cao Lộc (cũ) vẫn trẩy hội Ba Sơn, chính là kỷ niệm các chiến thắng của “khu du kích Ba Sơn” (lưu ý, ở gần Thái Nguyên thì có thung lũng Bắc Sơn và “khu du kích Bắc Sơn”). Như vậy, bây giờ, xã Mẫu Sơn (huyện Cao Lộc), Cao Lâu và Xuất Lễ đã hợp lại trở thành xã mới gọi là xã Ba Sơn. Hội quan trọng nhất của Ba Sơn là hội “Lồng Tồng” (xuống đồng) và các nghi lễ cầu mùa của cư dân nông nghiệp, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống bình an và gắn kết cộng đồng của người Tày Nùng nhưng vẫn có một số người Dao xuống tham gia hoặc bán hàng. Dĩ nhiên sẽ có các nghi lễ tâm linh, hát Sli, hát Lượn, múa sư tử và các trò chơi dân gian khác của dân bản địa.
Có một vấn đề cần nói thêm, Lạng Sơn là tỉnh có nhiều lễ hội. Theo thống kê, toàn tỉnh có khoảng 247 lễ hội truyền thống, trong đó hơn 90% là lễ hội Lồng Tồng với quy mô khác nhau, phổ biến nhất là tổ chức theo các xã ở quy mô cấp xã trong tháng Giêng và Hai âm lịch. Dĩ nhiên, một số lễ hội lớn của người Kinh hoặc có tính chất tôn giáo, tín ngưỡng khác không liên quan tới Lồng Tồng (Lễ hội chùa Tam Thanh 15 tháng Giêng thuộc về Phật giáo, tín ngưỡng; Lễ hội Ná Nhèm 15 tháng Giêng thuộc về tín ngưỡng phồn thực, Lễ hội Đền Kỳ Cùng – Tả Phủ 22-27 tháng Giêng thuộc về tín ngưỡng, lịch sử,…).
—
Ngày 3/2 âm lịch, có một lễ hội lớn tại Bản Nà Sla thuộc xã Thạch Đạn cũ, nay sáp nhập thành xã Cao Lộc (gồm các xã cũ là Lộc Yên, Thanh Lòa và Thạch Đạn). Người dân tộc thiểu số nói chung, trong đó có người Tày Nùng rất coi trọng lễ hội vì lễ hội chính là mạch liên kết vô hình của toàn bộ cộng đồng, dòng họ. Họ ưu tiên lễ hội trên hết, cho nên ngày 3/2 lẽ ra là lịch chợ phiên Ba Sơn (chợ lớn, được chính quyền xây dựng hẳn một khu rộng rãi ở ngay ngã 3 Pò Mất) nhưng đến ngày lễ người ta bỏ họp chợ để đi Lễ Hội ở tận Nà Sla thuộc xã Thạch Đạn (cũ), cách đó khoảng 27km. Cần nói thêm, theo tôi biết có ít nhất hai bản Nà Sla, một nằm ở xã Hồng Phong, huyện Bình Gia (cũ) và bản còn lại nằm ở xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc (cũ), hơn nữa, phát âm “Nà Sla” của người Tày Nùng ở khu vực này thành “sa”.
—
Tôi chưa có thời gian để tìm kiếm tư liệu thực địa và nghiên cứu kỹ hơn về hai chữ “Thạch Đạn”, tuy nhiên tổng hợp những thông tin, kiến thức sơ bộ thì dự đoán “thạch đạn” ở đây mặc dù là âm Hán Việt nhưng không có nghĩa là “viên đạn bằng đá” 石弹 mà có thể là “vùng đá” 石石, thể hiện đặc tính của khu vực vùng cao. Chữ 石 vừa phù hợp có âm đọc là “thạch” và cũng có âm đọc là “đạn”, mang nghĩa là đá. Như vậy đây có thể là hình thức láy Hán Việt khi dùng hai phát âm của cùng một chữ Hán để tạo ra “từ láy”. Dĩ nhiên có rất nhiều địa danh bạn sẽ chỉ có thể trực tiếp khám phá và trải nghiệm khi đến tận nơi bởi vì nó không xuất hiện trên bản đồ hoặc xuất hiện trên bản đồ nhưng bị sai lệch hoặc nhầm lẫn (chẳng hạn, bạn phải đến tận nơi mới biết ngã ba Pò Mất, Nà Sla,…). Đó là giá trị của thực tế.
Điểm đặc biệt của Mẫu Sơn chắc chắn bạn sẽ không thể tưởng tượng ra nếu chưa trải qua, đó là nơi hội tụ của các luồng khí nên thường xuyên chìm trong mây mù. Vào khoảng từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, có những đợt sương mù dày đặc, độ ẩm lên tới 90-100%, lúc nào cũng mù mù mờ mờ trong hơi nước, thậm chí nhiều tuần không có ánh mặt trời. Đặc biệt thời tiết thường thay đổi đột ngột, là đặc trưng của khí hậu á nhiệt đới trên núi cao. Tới một độ cao nhất định, cách đỉnh Mẫu Sơn khoảng 4-5km thì rất dễ gặp cảnh trong nháy mắt trời bỗng chuyển từ nắng sang mưa sương, mây mù dày đặc che khuất ánh sáng mặt trời làm cho trời tối sập rất nhanh, đường lên đỉnh núi mờ mờ rất nguy hiểm. Mặc dù các “danh đèo” của Tây Bắc như Mã Pì Lèng, Khau Phạ, Pha Đin hay Ô Quý Hồ hiểm trở, dài hơn và cao không kém đỉnh Mẫu Sơn nhưng so về sự “trở mặt” của thời tiết thì không thể so với Mẫu Sơn được.
Không có mặt trời lại ẩm ướt nên ở đây các loại rêu phát triển rất mạnh và phong phú, có thể tạo sự thích thú cho những người chơi thủy sinh, đá cảnh; nhiều loài cỏ và dương xỉ ít gặp. Cây ngải cứu ở đây mọc tự do khắp nơi, lá to và thơm, ngon hơn dưới chân núi, bạn có thể đi hái chúng để ăn lẩu. Một số loại hoa vẫn nở đẹp trong môi trường ẩm ướt quanh năm thiếu ánh mặt trời như đỗ quyên rừng, đào Mẫu Sơn, địa lan và lan hài rừng, chanh quất rừng, mận, cẩm tú cầu, thu hải đường,…
—
Đường lên Mẫu Sơn không quá khó nhưng nên đi theo ĐT 237B (hướng từ huyện Lộc Bình cũ) lên cho dễ đi hơn vì đây là cung đường chính, được đầu tư nâng cấp, mặt đường rộng rãi hơn, độ dốc thoải và ít cua tay áo hơn còn nhánh từ tỉnh lộ 235 (hướng qua xã Mẫu Sơn, cũ) có những đoạn đường rất nhỏ, dốc đứng và nhiều khúc cua gấp, hai ô tô gặp nhau phải rất cẩn thận, thậm chí phải xuống xe tìm chỗ để tránh. Đường này thường được sử dụng khi đi lên khu vực các đồn biên phòng cũ hoặc thử thách đam mê, nhưng rất dễ xảy ra trượt ngã nếu trời mưa hoặc sương mù dày. Đặc biệt là không đi vào chiều muộn, sương xuống mờ mịt như đi giữa đêm, rất nguy hiểm. Ngoài ra, ở đây khá lạnh, gió thổi vù vù cả ngày, đặc biệt là sáng sớm chỉ nghe toàn tiếng gió rít, kèm theo hơi nước tạt qua người như bão.
Trên đỉnh Mẫu Sơn chỉ có vài căn nhà cũ, một số quán nước đơn sơ của người Tày Nùng, vài ba người Dao đi bán thuốc hoặc đồ vặt. Đối với những người ưu khám phá và truy tầm những điều mới lạ thì đây là trải nghiệm đáng giá, thu lượm được nhiều thông tin, kiến thức và tường minh hoặc xác thực được thêm nhiều điều trước giờ vẫn thắc mắc. Chúng ta có thể vào những quán nhỏ, dưới ánh đèn điện vàng, trong không gian xam xám mờ mờ của sương trời quyện vài làn khói bếp, những chiếc ghế màu xanh lục trở thành điểm nhấn để bớt đi hơi lạnh, vừa sưởi ấm vừa ăn ngô hoặc cơm lam nướng,… Chưa nói đến chuyện khám phá nhiều, chỉ đối với những người lãng mạn thì điều đó cũng tựa như trong phim vậy, hết sức thú vị.
—
Mặc dù cả ngày trời mờ mờ ướt át nhưng ngày nào cũng có khách du lịch lên chơi nhưng thật khó nói Mẫu Sơn là một nơi chúng ta có nên đến hay không. Khi đến rồi thì còn tùy vào cá tính mỗi người mà sẽ chia làm 2 thái cực, hoặc là vô cùng thích thú, cảm xúc dâng trào vì khám phá và bất ngờ; hoặc ra vô cùng chán nản thất vọng “tưởng gì”, cảm xúc cũng dâng trào vì… thất vọng. Tôi đã chứng kiến một vài đoàn khách tới nơi, một số người vừa bước chân ra khỏi xe thì dường như lạnh quá vội chạy ngược vào xe ngồi im lìm,… một lúc sau thì cả đoàn rời Mẫu Sơn, kết thúc cuộc “tham quan” chóng vánh trong màn sương mờ mờ, chưa kịp nhận ra hình dáng vuông tròn của ngọn núi.
—
(còn tiếp)









Leave a Reply