Một chặng ngắn trên hành trình “Hoa sim biên giới”

(Tiểu Phi)

Nếu thi sĩ Hữu Loan quê Thanh Hóa nổi tiếng với bài thơ “Màu tím hoa sim” ở thời kháng Pháp thì nhạc sĩ Minh Quang cũng quê Thanh Hóa, nổi tiếng với bài hát “Hoa sim biên giới” viết trong giai đoạn chiến tranh biên giới chống Trung Quốc:

“Nếu em lên biên giới, em sẽ gặp bạt ngàn hoa,

hoa sim…giữa đồi nắng gió,

tím như ai chờ mong!

Hoa sim… hoa sim…

ta yêu từ ấu thơ,

trong trang sách học trò,

trong những câu hẹn hò”.

Tuy nhiên, lời của bài hát lại không phải do nhạc sĩ sáng tác mà là của anh trai ông, tức là nhà thơ Đỗ Minh Phong với bút danh Đặng Ái. Điều đặc biệt nữa là nhạc sĩ Minh Quang phổ nhạc bài này vào khoảng năm 1983, không phải lúc ông đã lão luyện mà là khi mới vào nghề, ở giai đoạn còn vừa học vừa tập sáng tác. Bài hát không chỉ tạo tiếng vang mà còn là bước ngoặt quan trọng với cá nhân nhạc sĩ, để ông từ đó đi theo con đường sáng tác chuyên nghiệp và gặt hái nhiều thành công sau này.

Bài hát này mặc dù không nói tới cái tên cụ thể, nhưng hình ảnh trong đó chính là nhắc đến khu vực Pò Hèn ở xã Hải Sơn thuộc Móng Cái, Quảng Ninh. Khu vực này mặc dù gọi là Móng Cái như chúng ta biết bây giờ nhưng nếu truy về lịch sử thì nó còn một cái tên hành chính đã từng rất nổi tiếng là Hải Ninh. Thời Pháp thuộc đã tồn tại phủ Hải Ninh gồm một phần Lạng Sơn và Quảng Ninh hiện nay (3 châu Hà Cối, Móng Cái, Tiên Yên). Năm 1906 Pháp lập tỉnh Hải Ninh, năm 1912 lại xóa tỉnh này và lập ra Đạo quan binh Hải Ninh. Đến thời VNDCCH thì tỉnh Hải Ninh tồn tại cho đến năm 1963 (thị xã Móng Cái chỉ là tỉnh lỵ của Hải Ninh) thì ghép với Hồng Quảng thành Quảng Ninh.

Hiện nay ở đây có Di tích lịch sử quốc gia Pò Hèn, vốn là vị trí “Đồn 209 Công an nhân dân vũ trang” (nhiều bài báo ghi “Đồn Biên phòng 209” là chưa đúng và không nắm rõ tình tiết lịch sử; thời điểm trận Pò Hèn thì lực lượng “Bộ đội Biên phòng” chưa ra đời, chỉ có “Công an nhân dân vũ trang” thuộc Bộ Nội vụ cho nên trong lịch sử chưa từng có “Đồn Biên phòng 209” nào cả), nay là “Đồn biên phòng Pò Hèn”. Điểm nhận diện là Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Pò Hèn cao 16m, quay về hướng Bắc với biểu tượng ba bàn tay chụp xếp vào nhau, tượng trưng cho tình đoàn kết của ba dân tộc Kinh, Dao và Sán Chỉ nơi biên ải trong cuộc chiến anh dũng bảo vệ biên cương của đất nước.

Tại đây có tấm ảnh rất quý chụp tập thể CBCS đồn 209 vào tháng 12/1978, tức là trước trận Pò Hèn chưa đầy 2 tháng. Lẽ ra ngày 17-2-1979 có một trận giao hữu bóng chuyền giữa đồn 209 và lâm trường Hải Ninh, nhưng chính hôm ấy đã không có trận bóng chuyền nào cả mà chỉ có một trận đánh đẫm máu với quân Trung Quốc. Vào sáng sớm, khoảng 4h45’ ngày 17/2/1979, quân Trung Quốc có hỏa lực mạnh và pháo binh bắt đầu tấn công đồn, toàn bộ lực lượng của đồn cùng với một số nhân viên thương nghiệp, công nhân lâm trường Hải Ninh ở trong khu vực phòng thủ đã tổ chức đánh trả quyết liệt. Trận chiến kết thúc khi 45 cán bộ chiến sĩ của đồn (bao gồm đồn phó Đỗ Sĩ Họa) cùng 28 người là tự vệ lâm trường, công nhân thương nghiệp đã hi sinh, nhiều người khác bị thương và bị địch bắt. Đặc biệt tại đây còn có nữ liệt sĩ là cô mậu dịch viên Hoàng Thị Hồng Chiêm của cửa hàng Pò Hèn, với khẩu K44 đã lên tham gia chiến đấu dũng cảm và hi sinh cùng đồn.

Khi quan sát, tôi đã phát hiện ra một ngẫu nhiên đau lòng là vào ngày 18/01/1979, huyện Móng Cái được đổi tên thành huyện Hải Ninh nhằm khôi phục lại danh xưng “Hải Ninh” để nhấn mạnh bề dày lịch sử của vùng đất biên cương này trong tình hình biên giới lúc đó đang rất căng thẳng. Ý nghĩa của hai chữ Hải Ninh (海寧) mang theo quyết tâm, kỳ vọng sự yên ổn nơi biển đảo. Tuy nhiên, cái tên ấy trở lại chưa kịp tròn 1 tháng thì đã xảy ra trận Pò Hèn thảm khốc như đã biết. Cho đến ngày 20 tháng 7 năm 1998, huyện Hải Ninh mới lại được đổi thành thị xã Móng Cái.

Hải Sơn (được hiểu là khu vực núi và biển) là tên của dãy núi rộng lớn tại đó, với đặc trưng là rất nhiều sim – đồi sim. Có một khu vực người dân quy hoạch để làm du lịch gọi là đồi sim Mã Thầu [Sơn]. Đứng tại đây, toàn sim là sim, sim có thể cao tới đầu người; còn phía trước không xa đã là đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Theo khảo cứu của tôi thì có khả năng Mã Thầu chính là “đầu ngựa”, âm “thầu” là một phát âm mượn từ tiếng Tráng (anh em của tiếng Tày Nùng) hoặc tiếng Quảng Đông của chữ 頭, tức là cái đầu; chẳng hạn thầu bân, thầu ván, con thầu (Tráng) hoặc thầu mụ, thầu xí, ló thầu (Quảng Đông) và quen thuộc nhất là món “màn thầu” như ta đã biết. Do đó Mã Thầu Sơn có nghĩa là “núi đầu ngựa”. Việc lấy hình dáng tư thế của các động vật, đặc biệt là ngựa để đặt tên cho các dãy núi là điều rất phổ biến và phù hợp với văn hóa vùng cao.

Sim là đặc trưng và đặc sản của nơi đây, không chỉ gắn liền với thi ca và lịch sử hào hùng, bi tráng của chiến tranh mà còn là điểm nhấn quan trọng nhất để người ta biết đến và làm du lịch; cho nên xã Hải Sơn cũng chính là nơi duy nhất tại Việt Nam có “Lễ hội hoa sim” khá độc đáo.

Tôi đã lái xe đi theo hành trình từ thị trấn Đình Lập theo QL4B để tới thị trấn Bình Liêu và từ đó ngược lên phía Bắc rồi đi theo đường Tuần biên hay đường tỉnh 341 cũ (bây giờ đã nâng cấp và nhập vào QL18) để lần lượt qua cửa khẩu Hoành Mô, xã Đồng Văn (Quảng Ninh), cửa khẩu Bắc Phong Sinh và dọc theo sông Bắc Luân (sông Ka Long) xuống phía Nam để về thành phố Móng Cái. Địa danh Pò Hèn chính là một điểm nằm trên đường tuần biên này, ở khu vực gần trung tâm xã Hải Sơn cũ.

Theo cách nhìn của tôi, đây là con đường vắng vẻ nhưng rất thú vị. Khi đi dọc theo nó, trải nghiệm thực tế về vùng biên viễn thiêng liêng tạo ra cảm xúc chân thực nhất, có lúc tựa như đã đứng ở đâu đó thật sát bên dòng lịch sử. Hàng chục kilomet chỉ có gió núi và bụi đường, thấp thoáng dọc theo còn đường là hàng rào biên giới màu xanh ngăn giữa hai nước do Trung Quốc đầu tư xây nên (và thậm chí có những chỗ rất gần hàng rào). Đường đi hơi vắng nhưng đẹp, không quá khó, dân cư bám đường nhiều, có thể đi lại một cách an toàn.

Theo quan niệm của tôi, mỗi nơi ta đến, mỗi địa danh, mỗi khúc cua hay mỏm đá bất thường đều không chỉ là một cái tên đơn thuần, cũng không phải là “của lạ” để chụp ảnh check-in rồi thôi. Chúng đều có nguyên cớ riêng, gắn với lịch sử, văn hóa hoặc ẩn chứa những triết lý sâu xa. Mọi vật sinh ra và tồn tại đều đã là minh chứng thuyết phục nhất cho chính mình, và do đó, luôn có cách để ta nhận thức đầy đủ về nó, nếu ta đủ kiên nhẫn.

Với tôi, hai chữ “trải nghiệm” không thể gán ghép một cách đơn giản hay bộc phát. Nó phải được xây dựng từ tri thức – để hiểu biết, đến tư tưởng – để chiêm nghiệm, rồi từ tư tưởng tự nhiên dẫn đến cảm xúc – sự rung động chân thật. Chỉ khi ấy, hai chữ “trải nghiệm” mới thực sự hình thành một cách thực sự, như cái còn lại cuối cùng của một hành trình đi từ nhận thức đến cảm nhận.

Đôi khi giữa những bộn bề lo toan, giữa những câu chuyện về thu nhập, thăng quan hay những con số trên thị trường, ta dễ cảm thấy như đang đánh mất chính mình trong vòng xoáy ấy. Có lẽ, mỗi người đều cần một khoảng lặng, một hành trình thực địa giản dị như thế này. Để được lắng nghe những âm thanh khác, để cảm nhận những giá trị khác, và để thấy lòng mình nhẹ nhàng, thênh thang hơn.

Những địa danh hiện ra, đến mức có thể chạm vào được, nếu có sự tự tìm hiểu nghiêm túc hoặc được người am hiểu lịch sử, văn hóa đồng hành và thuyết minh thì sẽ trở thành những bài học vô giá. Điều này đặc biệt còn quý giá đối với trẻ em – bởi đó là cách vun trồng cảm xúc lịch sử, bồi đắp phông nền văn hóa từ sớm, giúp các em hoàn thiện sự nhạy cảm và tích lũy những trải nghiệm tích cực. Một hành trình như vậy có thể nuôi dưỡng ở trẻ sự hiểu biết, tạo ra bản lĩnh và một nhân sinh quan sâu sắc, để sau này các em thêm phần lịch duyệt và cứng cáp trong cuộc sống.

About Tiểu Phi 129 Articles
Thật may mắn được kết nối với tri thức nhân loại để học hỏi mỗi ngày!

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*